Hiển thị các bài đăng có nhãn nhat ban.. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhat ban.. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2010

Khi người Nhật... nghèo...?

Trung tâm Nhật Ngữ Top-globis

Cha lâm bệnh nặng qua đời. Người con trai chôn cất cha mình ngay khu vườn của tư gia. Theo luật pháp Nhật Bản, người con trai trên phải thông báo với chính quyền việc cha quy tiên. Nhưng không, anh giấu chuyện này và hàng tháng đều đặn lĩnh lương hưu của cha mình. Tháng 8 vừa qua, vụ việc bại lộ. Người con trai bị bắt giữ. Cả nước Nhật rúng động. Choáng váng không chỉ vì hành vi của người con mà còn bởi đây là câu chuyện nối dài của hàng loạt sự kiện tương tự xảy ra vào tháng 7-2010.




Thời điểm đó, xứ anh đào xôn xao với tin người lớn tuổi nhất Nhật Bản (111 tuổi) thực ra đã qua đời từ nhiều năm trước. Khi chính quyền đến chúc thọ, người ta phát hiện ra cụ ông trên thực tế chỉ còn là cái xác. Người con gái của cụ, 81 tuổi, vẫn đều đặn nhận tiền lương hưu thay cha mình.

Nhiều cuộc tranh luận đã nổ ra từ việc chính quyền lưu giữ sổ sách thống kê dân số không cẩn thận cho đến những người con vi phạm luật pháp… Tuy nhiên, Itsuko Teruoka, nhà xã hội học thuộc Trường Đại học Saitama (Nhật Bản), lại có một góc nhìn khác. Theo bà Teruoka, chính tỷ lệ nghèo đói tăng mạnh ở Nhật Bản là nguyên nhân chính dẫn đến cơ sự trên. Giáo sư Ishisaburo Tochimoto của Đại học danh tiếng Sophia (Nhật Bản) đồng tình với nhận định của bà Teruoka và cho rằng hiện tượng trên phản ảnh thực trạng buồn về tình trạng gia tăng người nghèo ở Nhật Bản.

Ở Nhật Bản, người có thu nhập ít hơn 20.000 USD/năm được xếp vào dạng sống dưới mức nghèo. Năm 2007, tỷ lệ người nghèo của Nhật Bản vào khoảng 15,7% (cứ 6 người có 1 người nghèo). Theo các nhà xã hội học, tình trạng này sẽ còn xấu đi nhiều khi dân số già tiếp tục là vấn đề nhức nhối. Số lượng người 65 tuổi trở lên chiếm 23% tổng dân số 127 triệu người của Nhật Bản. 24% ngân sách quốc gia được chi trả cho phúc lợi xã hội và lương hưu cho người già. Thêm vào đó, việc thắt chặt tuyển dụng sau cuộc khủng hoảng đầu những năm 1990 đã đẩy thanh niên Nhật Bản vào tình trạng thất nghiệp và tỷ lệ nghèo trong giới này nhảy vọt. Hiện khoảng 40% thanh niên Nhật phải dựa vào các hình thức hỗ trợ cho việc theo học ở bậc đại học và sau đại học do cha mẹ của họ không đủ tiền trang trải học phí ở các bậc này.

Và những ai không có mảnh bằng đại học phải chấp nhận làm những công việc bán thời gian với thù lao thấp. Hiện 60% trong tổng số 66 triệu lao động chính của Nhật Bản làm các công việc bán thời gian. Theo một số thống kê gần đây, một người tốt nghiệp đại học có thể kiếm được 3 triệu USD trong 30 năm làm việc (100.000 USD/năm), trong khi con số này đối với người tốt nghiệp trung học chỉ bằng 1/3. Trong khi đó, nỗ lực tạo việc làm, tăng lương của chính phủ Nhật Bản chưa đáp ứng được nhu cầu. Năm 2009, lương tối thiểu đối với người lao động chỉ được tăng thêm 10 xu/giờ. Tỷ lệ thất nghiệp vào khoảng 5,7%, cao chưa từng có trong vòng 30 năm qua. Nợ công của Chính phủ đã lên đến 20% GDP.

Hiroshi, một người đàn ông 40 tuổi, có mẹ già lâm bệnh nặng đã phải bỏ công việc tại một nhà máy để ở nhà chăm mẹ theo truyền thống của người Nhật. Hiện 2 mẹ con sống qua ngày với 2.000 USD tiền lương hưu hàng tháng của người mẹ. Nỗi lo lắng thường trực của ông Hiroshi hiện nay là không có thu nhập và không có nhiều cơ hội tìm được việc khác trong tương lai, ông sẽ sống ra sao khi mẹ ông qua đời?

Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010

Tên họ của người Nhật Bản - Trung tâm Nhật Ngữ Top Globis

Trung tâm Nhật Ngữ Top-Globis
Một trong những điểm hóc búa đối với người nước ngoài khi học tiếng Nhật và với cả người Nhật là cách đọc và viết tên họ. Vậy nhưng đây cũng chính là một nét văn hóa hết sức đặc sắc của Nhật Bản. Đi tìm nguồn gốc của những tên họ này sẽ dẫn ta đến những bất ngờ thú vị.Hệ thống đặt tên họ của Nhật Bản rất phức tạp do hệ thống chữ viết gồm một khối lượng lớn các ký tự. Do vậy có nhiều tên họ phát âm giống nhau nhưng có thể được viết theo nhiều cách bằng các ký tự khác nhau. Ngược lại, một ký tự có thể có nhiều cách đọc nên chỉ dựa vào chữ viết thì nhiều khi không biết phát âm tên họ thế nào cho đúng. Tại Nhật Bản tồn tại chừng 120.000 họ. Số lượng lớn tên họ này trái ngược với hệ thống tên họ của Triều Tiên, Trung Quốc hay Việt Nam, trong đó mỗi làng thường gồm có một cộng đồng có quan hệ ruột thịt mang cùng một họ và trên toàn quốc chỉ có khoảng vài trăm họ khác nhau.

Họ của người Nhật có từ đâu

Vào khoảng thế kỷ thứ 13, việc sử dụng tên trong người Nhật bắt đầu phổ biến. Vì vậy nên vào thế kỷ thứ 17, khi thường dân ngoại trừ các samurai vẫn bị cấm không được mang tên, tên gọi đã được sử dụng tương đối rộng rãi, trong khi họ thì hầu như không có. Tại thời điểm đó, họ của người Nhật chỉ được sử dụng giới hạn trong các gia đình quyền thế. Những nhánh độc lập của hoàng tộc được Nhật Hoàng phong họ, trong khi các gia đình quí tộc từ xa xưa có họ riêng cho mình. Những dòng họ cổ này mang đậm màu sắc tôn giáo Thần đạo. Các tướng quân phong kiến thì được phong họ sau khi được cấp ấp, đất đai do công trạng của mình. Ngoài ra cũng có một số dòng họ do người Trung Quốc và Triều Tiên mang theo khi lánh nạn sang Nhật Bản từ thế kỷ thứ 4 về sau như họ Vương, họ Tần.

Vào đầu thời Minh Trị, trên 80% dân số Nhật Bản không có họ chính thức. Một bộ luật bắt buộc phải mang họ để nộp thuế được ban hành năm 1883 đã làm cho các tầng lớp dân thường như nông dân, thương nhân phải chọn và đăng ký họ. Đây là lý do chính làm bùng nổ số họ của người Nhật.

Việc đột nhiên phải chọn họ cho mình đương nhiên đã làm không ít người dân vốn ít chữ nghĩa phải lúng túng. Họ thường tìm đến người có chữ trong làng để xin họ, hoặc đơn giản là lấy cùng họ của những người láng giềng. Vậy nên không hiếm trường hợp cả làng lấy cùng một họ. Những họ được chọn phổ biến nhất là tên địa danh (Chiba, Wakamatsu...), đặc điểm địa hình như sông, núi, ruộng đồng (Mori, Yamada, Ogawa...), rồi phương hướng (Higashi, Nishimura...). Những họ này chiếm tới 90% trong số 120 nghìn họ của người Nhật. Cũng có những gia đình lấy nghề nghiệp làm họ của mình.

Một điều đáng chú ý là do sự hâm mộ đối với dòng họ nổi tiếng trong lịch sử là Fujiwara mà những dòng họ có ghép chữ fuji (còn đọc là to) vào tên địa phương như Kato, Ito, Ando, Sato, Saito, Koto, Goto trở nên khá phổ biến, trong khi những hậu duệ của Fujiwara mang họ Fujiwara, Fujikawa, Fujimoto... Họ Suzuki được ghép giữa chữ suzu (Linh) và chữ ki (Mộc) lấy từ Thần Mộc (cây thiêng trong đền) đều là những vật gắn liền với đền thờ Thần đạo, tôn giáo được nhà nước chủ trương chấn hưng trong thời kỳ này.

Những họ phổ biến và độc đáo

10 họ phổ biến nhất tại Nhật hiện nay là: 1. Sato, 2. Suzuki, 3. Takahashi, 4. Tanaka, 5. Watanabe, 6. Ito, 7. Yamamoto, 8. Nakamura, 9. Kobayashi và 10. Kato. Tuy nhiên, 100 họ phổ biến nhất cũng chỉ chiếm chừng 30% đến 40% dân số. Đại đa số họ của người Nhật gồm 2 chữ Hán, nhưng cũng không ít họ chỉ có 1 chữ Hán, thậm chí 1 âm, trong khi họ dài nhất được viết bằng 5 chữ Hán.

Một số họ mang nghĩa khá đặc biệt như những ví dụ sau.

Cách đọc-Cách viết-Nghĩa-Cách đọc-Cách viết-Nghĩa

Ibukuro-Dạ dày-Gokuraku-Cực lạc



Uki-Ngoại tình-Furo-Nhà tắm

Onigiri-‘Cơm nắm’-Kingyo-Cá vàng

Niizuma-Vợ mới-Muteki-Vô địch

Hige-Râu-Teppo-Đại bác



Điều đặc biệt là dù số lượng tên họ nhiều như vậy, hoàng tộc không có họ.

Tên của người Nhật

Tên của người Nhật thậm chí còn khó đọc hơn họ, do sự liên hệ giữa chữ viết và cách đọc hêt sức lỏng lẻo. Tên thường được chọn từ các chữ mang nghĩa may mắn hay đáng trân trọng, hoặc những từ chỉ thứ tự đứa trẻ được sinh ra trong nhà v.v... Thường thì cách đặt thứ hai được dùng phổ biến cho con trai. Đôi khi người ta dùng kết hợp cả hai cách đặt tên. Phổ biến là chữ viết cuối cùng của tên gọi là một tiếp vị ngữ chỉ giới tính. Vì vậy tên của con trai thường có tiếp vị ngữ ‘hiko’, ‘o’ hoặc ‘to’, còn tên của con gái có tiếp vị ngữ ‘ko’. Tên của phụ nữ cho đến thời Edo hầu như không dùng chữ Hán. Tên viết bằng chữ Hán chỉ vượt quá 50% khi bước vào thế kỷ 20.

Gần đây, có xu thế đặt tên con trai với những chữ mang ấn tượng nhanh, mạnh và khoáng đạt, trong khi tên con gái không dùng tiếp vị ngữ ko, với những chữ mang ấn tượng về vẻ đẹp, sự dịu dàng và dễ đọc khi phiên âm.

Thời kỳ sau chiến tranh, chính phủ Nhật Bản đã cố gắng đơn giản hoá hệ thống đặt tên phức tạp này bằng cách hạn chế số ký tự được sử dụng để đặt tên dựa theo một danh sách giới hạn đặc biệt được chính thức chấp nhận dùng để đăng ký khai sinh. Các bậc phụ huynh được khuyên là nên dựa vào đó để chọn tên con.

Thứ Ba, 28 tháng 9, 2010

Mười món ăn kỳ lạ của người Nhật Bản - Trung tâm Nhật Ngữ Top-Globis

Trung tâm Nhật Ngữ Top-Globis

Ở Nhật, bên cạnh các món hấp dẫn như sushi, cơm hộp bento, tempura…thì cũng có rất nhiều món ăn được người ta coi là kỳ lạ nhưng lại rất phổ biến và khá được ưa chuộng. Sau đây là danh sách mười món ăn độc đáo, kỳ lạ của người dân đất nước mặt trời mọc.

1. Shirako



Đây là món ăn được chế biến từ cơ quan sinh dục của loài cá. Shirako là món ăn rất phổ biến tại hầu hết các quán rượu và các quán sushi ở Nhật.

2. Inago no Tsukudani (món ăn từ châu chấu)

Inago no Tsukudani là một trong những món ăn truyền thống từ côn trùng của người Nhật Bản. Món ăn này rất phổ biến với cư dân ở các vùng nông thôn của tỉnh Yamagata, tỉnh Nagano và quận Gunma (thuộc đảo Honshu).


“Inago” trong tiếng Nhật có nghĩa là châu chấu. Chỉ cần hầm châu chấu với tsukudani (một loại gia vị Nhật Bản thường được làm bằng cỏ biển đã được nấu nhừ trong nước tương, sake nấu và mirin) là đã có được món Inago no Tsukudani ngon lành.

3. Basashi (Thịt ngựa sống)


Vì thịt ngựa sống có màu đỏ nên người Nhật vẫn gọi món ăn này là “sakura” hoặc “sakuraniku”. “Sakura” có nghĩa là hoa anh đào, còn “niku” có nghĩa đơn giản là “thịt”.

Khi thịt ngựa được thái thành những lát mỏng người Nhật gọi đó là “basashi”. Nhiều quận huyện thuộc các tỉnh Kumamoto, Nagano hay Oita nổi tiếng với basashi và đây cũng là một đặc sản của vùng Tohoku nước Nhật.

Ngoài ra còn có basashi kem - một món tráng miệng quen thuộc và hấp dẫn được làm từ thịt ngựa.

4. Natto (Đậu nành lên men)


Natto là món rất nặng mùi, hương vị nặng và được làm từ đậu nành lên men. Natto được người Nhật Bản dùng phổ biến trong các bữa sáng.

5. Fugu (cá độc)

Fugu trong tiếng Nhật được gọi cho một món ăn làm từ cá độc, tiêu biểu là loài cá nóc. Các ký tự chữ Hán được dùng để viết “fugu” được dịch với nghĩa đen là “dòng sông bẩn”.



Thịt cá nóc ăn được. Tuy nhiên da, gan và buồng trứng của loài cá này lại chứa một lượng gây chết người của chất độc tetrododoxin. Nếu ăn phải một trong những thành phần này, chất độc sẽ làm tê liệt các cơ bắp trong khi nạn nhân vẫn rất tỉnh táo. Cuối cùng, người nhiễm độc cá nóc sẽ chết vì ngạt thở.

Những nhà hàng ở Nhật chỉ có thể chế biến và phục vụ Fugu khi đảm bảo được chất lượng đầu bếp. Đầu bếp chế biến fugu phải đảm bảo những điều kiện cơ bản. Họ phải qua một quá trình học tập, kinh nghiệm thực tập ít nhất từ 2 đến 3 năm, và cũng phải trải qua những kỳ thi Quốc Gia ở Nhật Bản.

6. Hachinoko (ấu trùng ong)



Một trong những món ăn ưa thích của vị thiên hoàng Hirohito là ong bắp cày nấu với gạo, đường và nước tương. Đây là món ăn giàu protein khá quen thuộc ở Nhật.

7. Zazamushi (Côn trùng thủy sinh)


Zazamushi khá phổ biến ở Nhật Bản cả trong việc đóng hộp và chế biến món ăn tại các nhà hàng. Zazamushi không phải được gọi cho một loại côn trùng duy nhất, mà được gọi chung cho những côn trùng thủy sinh sống ở các bờ sỏi cát ven sông.

8. Thịt cá voi





Bằng chứng khoa học từ Chương trình nghiên cứu cá voi của Nhật cho thấy rằng, cá voi được tiêu thụ trên toàn nước Nhật Bản, phổ biến nhất là một loại bánh mì kẹp (whaleburger) có nhân là thịt cá voi.

9. Shiokara (Hải sản lên men)


Shiokara là món hải sản lên men của người nhật. Shiokara có thể được chế biến từ nhiều loại cá kết hợp với muối.

10. Shirouo no Odorigui



Shirouo là những chú cá rất nhỏ, trong suốt và được ăn sống. Điều thú vị của món ăn này là cảm nhận những chú cá nhảy múa trong miệng khi ăn.




Trung tâm Nhật Ngữ Top-Globis
Sưu tầm